Nghề làm ngói của người Pa Dí ở Mường Khương

Từ xa xưa, người Pa Dí trên vùng đất Cao Sơn (Mường Khương) đã rất nổi tiếng với nghề làm ngói đất nung. Làm ngói đất nung không chỉ đáp ứng nhu cầu làm nhà của các gia đình người dân Pa Dí mà còn trở thành một sản phẩm hàng hóa được nhiều dân tộc trong vùng ưa chuộng.
 
Theo những người già trong làng kể lại, trước đây nghề làm ngói của người Pa Dí phát triển rất mạnh ở một số làng bản như: Lũng Pâu, Dì Thàng, Cốc Mù của xã Tung Chung Phố; thôn Sa Pả 9, 10, 11 của thị trấn Mường Khương. Vào lúc nông nhàn, sau khi các gia đình đã thu hoạch xong, đây cũng là khoảng thời gian mùa khô, các hộ gia đình làm nghề lại tất bật với công việc sửa sang dụng cụ, sửa lại lò để chuẩn bị cho một mùa nghề mới.



Công đoạn làm đất, tạo khuôn.

Sản phẩm ngói âm dương của người Pa Dí được làm theo phương thức thủ công là chính nhưng đã đạt đến trình độ kỹ thuật cao từ cách chọn đất, nhào nặn và trộn các loại đất, kỹ thuật nung đốt. Bởi vậy mà các sản phẩm ngói của người Pa Dí làm ra có độ bền cao, màu đỏ thẫm, đặc biệt là có độ phẳng và khít rất cao. Kỹ thuật có được phần lớn dựa trên những kinh nghiệm mà những người thợ đúc kết được và truyền lại cho các thế hệ sau.

Để tạo chất lượng cho sản phẩm có độ bền, dẻo, không bị vênh thì ngay từ khâu chọn đất phải được người thợ chú trọng, lựa chọn rất kỹ, bởi nguyên liệu luôn có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của sản phẩm nên họ phải chọn những loại đất có độ dẻo cao. Người Pa Dí thường sử dụng loại đất đồi màu đỏ hoặc nâu sẫm, không lẫn sỏi, đá, sau đó mang về băm nhỏ, ngâm nước qua đêm cho ngấu rồi dùng trâu quần nhuyễn. Đất được đắp thành đống tròn, ủ cho thật dẻo trước khi tạo hình ngói.

Để tạo hình dáng cho viên ngói, người Pa Dí sử dụng loại khuôn gỗ “goa thung” hình trụ cao gấp đôi viên ngói và đường kính khoảng 40 cm. Khuôn gỗ được đặt lên một chiếc bàn xoay do người thợ tự chế tạo. Khác với làm gạch, làm ngói rất coi trọng khâu nhào nguyên liệu, đất phải được nhào nhiều cho thật nhuyễn, sau đó đắp ủ thành từng đống nhỏ, khi nào đóng, họ xẻ từng ít ra nhào lại rồi đắp thành một khối hình chữ nhật, có chiều rộng vừa với chiều cao của khuôn gỗ, chiều dài thì tùy ý.

Khi làm ngói, người thợ dùng một loại kéo do mình tự chế tác, cắt đất thành những lớp mỏng có độ dày bằng nhau, sau đó mang cuốn vòng quanh khuôn rồi đặt lên bàn xoay cho đất thật mịn. Sau khi ra khuôn, sản phẩm ngói mộc sẽ có kiểu dáng là một hình trụ tròn, họ đem phơi khô rồi dùng tay tách ra thành từng viên. Mỗi lần ra khuôn sẽ tạo được tám viên ngói mộc, sau đó xếp thành từng hàng để chuẩn bị cho vào lò nung.



Ra khuôn và phơi ngói mộc.

Lò nung là một khâu rất quan trọng trong quy trình sản xuất ngói của người Pa Dí, họ thường chọn những khu vực có địa hình cao ráo, thuận tiện cho việc vận chuyển ngói vào lò. Sau đó, họ dùng búa chim, cuốc khoét sâu vào trong qủa đồi tạo thành một chiếc lò nung hình vòm, có chiều rộng từ 3 - 5 m, chiều cao từ 5 - 6 m. Phía trước là cửa ra vào, phía trên đỉnh khoét một lỗ tròn để thông hơi trong quá trình nung. Bên trong lò, làm thành các rãnh bằng đất để đưa củi vào, khi nung hơi lửa bén theo các rãnh lên. Cửa lò thường được làm theo hướng gió để thuận lợi trong quá trình đốt. Với cách làm âm nằm trong quả đồi nên khi nung lò sẽ luôn đạt được mức nhiệt độ cao cố định, đây là cách nung các loại đất gốm mà các dân tộc vùng cao hay làm.

Trước đây, người Pa Dí thường sử dụng củi than gỗ để nung ngói, họ chọn những loại gỗ tốt, chẻ hoặc cắt ra thành từng khúc ngắn để làm củi đốt. Trong thời gian nung ngói, người thợ luôn phải túc trực bên lò để điều chỉnh ngọn lửa và nhiệt độ sao cho vừa đủ với từng giai đoạn để đảm bảo sản phẩm ra lò đạt chất lượng tốt nhất. Nếu để lửa cháy to, nhiệt độ trong lò cao sẽ làm cho ngói bị phồng, vênh.
 


Đưa ngói vào lò nung.

Những người đốt lò thường là những người thợ đã dạn dày kinh nghiệm, nắm được đặc tính của đất và nhìn vào ngọn lửa là đoán được nhiệt độ trong lò để có sự điều chỉnh phù hợp. Quá trình nung đốt diễn ra suốt 3 ngày, 3 đêm liên tục, sau đó dùng gạch hoặc đất trát kín cửa lò lại, để một thời gian cho lò nguội rồi ra lò.

Người Pa Dí thường sử dụng loại nguyên liệu ngói âm dương do mình tự làm để lợp mái nhà, loại ngói này rất bền và mát. Những kinh nghiệm đúc kết trong quá trình làm nghề ngói truyền thống được người dân Pa Dí giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ sau./.
(Theo laocai.gov.vn)

Tin Liên Quan

Thăng trầm nghề chạm khắc bạc giữa thời “bão giá”

Từ lâu, nghề chạm khắc bạc của đồng bào Dao đỏ xã Mường Hum, Dền Sáng đã khá nổi tiếng. Trải qua hàng trăm năm, đồng bào Dao đỏ ở nơi đây vừa bảo tồn, gìn giữ nghề chạm khắc bạc của tổ tiên, vừa có nguồn thu nhập khá từ nghề. Vậy nhưng, hơn một năm trở lại đây, khi giá bạc nguyên liệu tăng cao...

Giữ lửa nghề rèn giữa lòng phố thị

Giữa nhịp sống hối hả, tại một góc nhỏ trên đường Hoàng Sào, phường Cam Đường, cha con ông Nguyễn Bá Đồng vẫn miệt mài giữ lửa cho một nghề tưởng chừng đã lùi vào dĩ vãng - nghề rèn.

Giữ "hồn" trang phục bản địa

Trong quá trình phát triển du lịch, việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống đang được các địa phương và ngành chức năng của tỉnh chú trọng thực hiện, trong đó, bảo tồn trang phục các dân tộc thiểu số là nội dung được quan tâm.

Độc đáo nét văn hóa Then của người Giáy

Trong đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Giáy ở Lào Cai, nghi lễ Then từ lâu đã trở thành một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh quen thuộc, gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng. Giữa nhịp sống hiện đại, ở nhiều bản làng vùng cao, những thầy Then vẫn miệt mài giữ gìn nét đẹp văn hóa dân gian...

Người lưu giữ nghệ thuật chế tác khèn bè Thái

Gần 90 tuổi nhưng ông Vì Văn Ngân ở Bản Ten, phường Nghĩa Lộ vẫn dành trọn tâm huyết lưu giữ nghệ thuật chế tác nhạc cụ dân tộc Thái. Ông là một trong số rất ít người còn biết chế tác hoàn chỉnh chiếc Khèn bè Thái ở vùng Mường Lò. Không chỉ vậy, ông còn sử dụng thành thạo nhiều loại nhạc cụ dân...

Nét đẹp cúng rừng của đồng bào vùng cao Lào Cai

Từ bao đời nay, đồng bào các dân tộc Mông, Dao, Hà Nhì, Giáy… ở vùng cao tỉnh Lào Cai vẫn gìn giữ tục lệ cúng rừng vào dịp đầu năm. Nghi lễ không chỉ là nét đẹp văn hóa truyền thống mà còn là sợi dây gắn kết cộng đồng, góp phần nâng cao ý thức giữ rừng trong mỗi người dân.